Học ngành Y tại Úc

Du học Úc theo ngành

Học ngành Y tại Úc

19/08/2019 166 Lượt xem
Ngành học nào có chi phí đào tạo cao nhất, thời gian đào tạo lâu nhất và cũng khó vào nhất. Chắc hẳn ai cũng biết ... đó chính là ngành Y. Nếu học Y tại Việt nam, hẳn là các em học sinh giỏi top đầu quốc gia. Học ngành Y tại Úc còn cần nhiều hơn thế. Bài viết này tóm tắt lộ trình học ngành Y tại Úc để các em học sinh "siêu nhân" và quý phụ huynh tham khảo.

----

Cập nhật mới nhất: kỳ thi UMAT dưới đây đã được thay thế bằng UCAT kể từ 2019 tức là năm nay, áp cho kỳ tuyển sinh 2020

  • UCAT tương tự như UMAT, nhưng là bài thi trên máy tính, kiểm tra 5 các kỹ năng: verbal reasoning, decision making, quantitative reasoning, abstract reasoning and situational judgement. 
  • Chúng tôi sẽ cập nhật lại bài viết theo thông tin mới nhất này 

---

Tai Úc, chương trình đào tạo bác sĩ theo 2 lộ trình chính: (1) Học trực tiếp từ phổ thông rồi lên đại học (Undergraduate Medicine) hoặc (2) Học ngành Y sau khi đã tốt nghiệp bậc đại học ở một lĩnh vực khác (Graduate Medicine)

1. Chương trình học trực tiếp từ phổ thông rồi lên đại học (Undergraduate medicine)

Cũng tương tự như học ngành Y tại Việt Nam, học Đại học ngành Y tại Úc mất khoảng 5 – 6 năm tính từ sau khi tốt nghiệp trung học. Các trường Y tại Úc đều mở cho sinh viên quốc tế nhập học hàng năm tuy nhiên với số lượng rất hạn chế. Do đó để được học ngành Y tại Úc đòi hỏi sinh viên quốc tế phải đạt được điểm số đầu vào và tiếng anh rất cao để cạnh tranh với các sinh viên khác.

Để học ngành y tại Úc, các sinh viên sẽ phải vượt qua kỳ thi UMAT (Undergraduate Medicine and health sciences Admission Test - Kỳ Thi tuyển sinh vào các ngành Khoa học Sức khỏe và Y tế). 

UMAT là một bài thi trắc nghiệm dành cho các học sinh bản địa cũng du học sinh quốc tế muốn theo học các ngành về y tế, sức khỏe. Kì thi này tương tự như là kì thi trắc nghiệm cho cá nhân học sinh chứ không phải kì thi về kiến thức y học của học sinh.

UMAT bị các sinh viên cho là "rào cản", đặc biệt với sinh viên du học Úc đến từ châu Á vì cách thi và nội dung khác thường của nó. Tuy nhiên, bản chất kỳ thi này nhằm đánh giá từ khả năng đọc và hiểu tiếng Anh, các kiến thức phổ thông trong đời sống, chỉ số thông minh, cách xử lý trong các tình huống cả cụ thể lẫn trừu tượng, tính cách có phù hợp ngành và y đức - một trong phần quan trọng không thể thiếu được trong ngành y.

Thông thường, UMAT sẽ quyết định một học sinh có thể theo học ngành nha, y, dược hay không. Một học sinh đạt điểm đầu vào cao (điểm mà trường ĐH chọn để có thể vào học) nhưng rớt UMAT thì cũng không đủ điều kiện học ngành Y tại Úc.

Cấu trúc của kỳ thi UMAT gồm 3 ba phần

  • Phần 1 - Logical Reasoning and Problem solving, ứng viên sẽ được kiểm tra về khả năng suy luận, sự phán đoán cũng như diễn giải nhằm đưa một quyết định đúng đắn và hợp lý nhất. Các câu hỏi trong phần 1 là một chuỗi các tình huống và mỗi tình huống có một nội dung khác nhau trải rộng trên nhiều lĩnh vực.
  • Phần 2 - Understanding People, tương tự như phần 1, tuy nhiên nội dung đi sâu về chuyên môn hơn. Dạng câu hỏi trong phần 2 thường đưa ra những tình huống đề cập đến mối quan hệ giữa thầy thuốc (bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ) và bệnh nhân. Nhiều câu hỏi có liên quan đến vấn đề lương tâm và nghề nghiệp. Một thí sinh giỏi phải biết ứng xử một cách khôn khéo và chọn ra một quyết định sáng suốt vừa hợp tình, hợp lý và hợp với lương tâm nghề nghiệp. Thí dụ như có một câu hỏi tại sao bạn lại chọn ngành dược, nếu bạn trả lời rằng làm dược sĩ có thể… mở nhà thuốc tây để làm giàu thì xem như rớt là cái chắc.
  • Phần 3 - Non-verbal Reasoning - gồm toàn bộ các câu hỏi bằng hình vẽ đòi hỏi người dự thi phải có khả năng suy luận một cách độc lập và trừu tượng. Học sinh phải biết nhận diện hình trong một bức tranh hỗn hợp gồm đủ loại hình dạng và chiều hướng, kích thước khác nhau được đảo lộn trong không gian qua nhiều góc độ khác nhau. Đây là một “tuyệt chiêu” mới của cơ quan ACER (Australian Council for Educational Research) nhằm thử thách trí thông minh và khả năng phán đoán của thí sinh.

Sau khi vượt qua bài thi UMAT, sinh viên học 5-6 năm và nhận văn bằng cử nhân y khoa (MD) hoặc cử nhân phẫu thuật (MBBS). Đây là mới chỉ là bằng cử nhân thực hành, không phải là bác sĩ điều trị. Chương trình huấn luyện cấp cử nhân (MD hay MBBS) thường được có thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 là chương trình học cơ bản (7-8 course), như quá trình phát triển của một cá nhân, lão hoá, môi trường, xã hội, và y đức.
  • Giai đoạn 2 là học tiền lâm sàng.
  • Giai đoạn 3 là tập trung học về lâm sàng, nhưng vẫn học khá nhiều môn về khoa học cơ bản và khoa học xã hội.

Sau khi tốt nghiệp M.D (hay MBBS) các bác sĩ tương lai còn phải qua hai giai đoạn huấn luyện trước khi hành nghề độc lập.

Tất cả các sinh viên tốt nghiệp y khoa phải qua ít nhất một năm internship (thực tập) tại bệnh viện. Các sinh viên phải làm việc dưới sự hướng dẫn và giám thị của của một bác sĩ có thâm niên cao. Giai đoạn này thường xoay quanh các khoa cấp cứu, nội khoa tổng quát, và ngoại khoa.

Sau khi hoàn tất chương trình internship, trên lí thuyết, bác sĩ có thể đăng kí với Hội đồng Y khoa (Medical Board) của bang, và có thể hành nghề độc lập. Nhưng trong thực tế thì hầu hết bác sĩ sau giai đoạn internship phải qua một giai đoạn huấn luyện nội trú (gọi là resident) thường kéo dài 2 năm (nhưng cũng có khi 3 năm) trước khi trở thành bác sỹ độc lập. Giai đoạn này có thể xem như là sau đại học, và cũng là thời gian mà bác sĩ quyết định nên theo đuổi sự nghiệp chuyên khoa hay hành nghề bác sĩ đa khoa. 

Nếu muốn trở nâng cao trình độ chuyên môn để hoạt động trong chuyên ngành cụ thể, chẳng hạn: phẫu thuật mắt, da liễu, gây mê…, các sinh viên phải trải qua quá trình học tập và đào tạo thêm khoảng 4 năm nữa để trở thành bác sĩ chuyên khoa.

Tổng hợp lại, tính từ lúc đào tạo cấp cử nhân đến lúc hành nghề độc lập như là một bác sĩ đa khoa, một sinh viên phải qua gần 9 năm học và thực hành. Để trở thành bác sĩ chuyên khoa, thời gian học và thực tập có thể dao động từ 12 đến 15 năm.

Học phí du học Úc trung bình cho mỗi năm học ngành y cho bằng cử nhân y khoa (MD) hoặc cử nhân phẫu thuật (MBBS) cao hơn nhiều so với các ngành khác như kinh tế, kĩ thuật... từ khoảng AU$35.000 – AU$ 70.000/năm

Như vậy, đối với sinh viên Việt Nam, nếu so sánh với quốc gia phát triển khác, theo đuổi ngành y tại Úc có vẻ dễ vào hơn chút xíu so với Mỹ, Canada. Tuy nhiên điểm chung là đều cần hội tụ nhiều yếu tố cùng lúc: năng lực giỏi, tài chính, cần một thời gian đào tạo lâu hơn nhiều so với các ngành nghề khác - một đặc thù rõ ràng của ngành.

2. Học ngành Y sau khi đã tốt nghiệp Đại học ở một lĩnh vực khác (Graduate medicine)

Đối với các sinh viên đã có bằng cử nhân ngành bất kì nếu muốn tiếp tục theo học tiếp trường y, thay vì UMAT, những sinh viên này cần phải vượt qua kỳ thi GAMSAT (Graduate Australian Medical Schools Admission Test) và phỏng vấn cá nhân.

GAMSAT được tổ chức và quản lý bới ACER (Australian Council for education research). GAMSAT cũng như UMAT, được dành cho các sinh viên muốn học các ngành Y, Nha khoa, Thú ý cho các sinh viên Úc, Anh và Ireland. GAMSAT được tổ chức mỗi năm 2 lần vào tháng 3, tháng 9. Thời gian thi từ 8h sáng đến 4h chiều. Gồm 3 phần

  • Section 1 :- 75 questions in 100 minutes (Humanities & Social Science)
  • Section 2 :- 2 essays written communication (1 hours)
  • Section 3 :- 110 questions in 170 minute (Physics / science)

Các sinh viên sau khi đỗ kì thi GAMSAT sẽ học trong khoảng 4 năm và nhận văn bằng cử nhân y khoa (MD) hoặc cử nhân phẫu thuật (MBBS). Sau đó sinh viên trải qua giai đoạn thực tập, đào tạo nội trú như và đăng ký với Hội đồng y khoa của bang để được cấp giấy phép hành nghề ... như lộ trình 1

Tại Úc hiện có 11 trên 19 trường đào tạo Y tại Úc có chương trình đào tạo dành cho sinh viên đã tốt nghiệp bậc đại học ở một lĩnh vực khác bao gồm:

1. Australian National University (Bang Australian Capital Territory)

2. University of Notre Dame Australia (Bang New South Wales và Bang Western Australia)

3. University of Sydney (Bang New South Wales )

4. University of Wollongong (Bang New South Wales)

5. Griffith University (Bang Queenslan)

6. James Cook University (Bang Queenslan)

7. University of Queensland (Bang Queensland)

8. Flinders University (Bang South Australia)

9. Deakin University (Bang Victoria)

10. University of Melbourne (Bang Victoria)

11. University of Western Australia (Bang Western Australia)

 

NHM

 

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN DU HỌC ÚC

NAM PHONG EDUCATION

Văn phòng HN: 

19P Thụy Khuê, Hà Nội

Hotline 090 17 34 288

Văn phòng HCM:

253 Điện Biên Phủ, P7, Q3, HCM

Hotline 093 205 3388

Email: contact@duhocnamphong.vn